I. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THIẾT KẾ ĐỒ HỌA :

1. Mọi thứ quanh ta đều được thiết kế :

Chúng ta có thể bắt gặp các sản phẩm của ngành Thiết kế đồ họa ở bất cứ lĩnh vực nào trong cuộc sống. Từ bao bì sản phẩm, báo, tạp chí, các ấn phẩm quảng cáo thương hiệu (poster, tờ rơi, logo) đến hoạt động sự kiện (phông nền, cảnh trí, clip…), giao diện website, phim, game, các ứng dụng cho các thiết bị di dộng… đều cần đến ý tưởng sáng tạo và phong cách thiết kế khác biệt, chuyên nghiệp của những họa sỹ thiết kế. Xã hội càng phát triển, nhu cầu thẩm mỹ càng được nâng cao, đặc biệt trong thời đại bùng nổ về truyền thông trên nền tảng mạng internet, truyền hình và di động thì thiết kế đồ họa lại càng chứng tỏ được tầm quan trọng và sự cần thiết của mình.

  • banner-fine-art

1. Lịch sử thiết kế đồ họa :

Đồ họa (graphic design) đã có từ xưa, khi con người tự tìm cho mình những hình thức biểu hiện qua thị giác (Visual form) để dẫn dắt đến một  ý nghĩa nào đó (Ideas & Concepts), dần dần tạo nên kinh nghiệm quen thuộc bằng hình ảnh (Graphic Form). Từ những hình ảnh đó đã tạo nên các tín hiệu để con người truyền thông tin cho nhau. Trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của ngành thiết kế đồ họa, chữ viết (văn tự) và in ấn là hai yếu tố quan trọng, mỗi giai đoạn lại có những phát minh mới thay thế cho các phát minh cũ. Đó là lý do mà phái Constructivism cho rằng “Không có biên giới giữa nghệ thuật hàn lâm và đồ họa tạo hình”.

Giai đoạn phôi thai

Danh từ Đồ họa (Graphic Art) được xem là có nguồn gốc từ tiếng Hy-Lạp Graphos hay Graphique (Graphein) có nghĩa là viết; tuy nhiên, trước khi có văn tự, con người đã truyền thông  tin bằng phương thức nào?

 Đi ngược lại dòng lịch sử, từ thời cổ đại, bên những hình vẽ trên các hang động, cho thấy, ở đó cũng đã cấu thành một xã hội nhỏ. Từ đó, những thông tin đơn giản được sử dụng, nhằm đem lại lợi ích cho cuộc sống săn bắt, hái lượm hay đề phòng thú dữ,…

Giai đoạn phôi thai này có thể được nhận biết qua các quá trình sau:

– Quá trình đối thoại bằng hình qua các hình vẽ được đề cập, ít nhất từ 40.000 năm trước công nguyên (TCN). Ví dụ, hình bàn tay in trên vách đá gọi là “Stencil Hand” được tạo tác bởi người Homo Sabiens, người Cro-Magnons…  Nó biểu hiện một hình ảnh rất cụ thể, mang đến nhiều thông tin trong kinh nghiệm đời sống thường nhật của họ, điển hình nhất là kinh nghiệm dò xét những dấu chân thú in hằn trên mặt đất, để có những thông tin  về nơi chốn, sự di chuyển của  loài thú đó nhằm tạo nên hiệu quả cao trong săn bắt.

Bên cạnh các hình vẽ in trên vách đá, trên mặt đất; còn nhiều biểu hiện khác như các tín hiệu bằng tay (Geste) và các dấu hiệu (Sign) khắc trên đá, trên gốm v.v Những thứ đó được xem như một phương tiện truyền thông (Communication)mang ý nghĩa trừu tượng… Các biểu hiện kể trên được xem là phuơng tiện nguyên thuỷ, bình dị để con người truyền thông tin với nhau, người ta gọi đó là những biểu hiện kép(Double Lecture).

 Căn cứ trên hình vẽ này, tất cả dấu hiệu được biểu hiện bằng những nét kỷ hà, hình học(Geometrique), những phương tiện này làm nền tảng cho thời kỳ thông tin mang nặng tính chất Đồ họa (Graphical Art)… Đồng thời, hé mở bao khám phá cuả bản năng con người ở thời cổ đại và các biểu hiện mang tính phồn thực. do hoa tien su
 do hoa lich su Bức hình bộc lộ các ký tự thô sơ, văn tự tượng hình, phát triển từ những “Sign” cổ. Tuy nhiên, các chữ tượng hình này đều được đánh dấu tại các vị trí giống như những phù thủy lãnh đạo tinh thần của các nhóm người trong bộ lạc.

Những chữ tượng hình (pictographic) dần dần được phát triển thành những biểu tượng (Symbole), tạo nên các đối thoại liên tục, phản ánh cuộc sống thường ngày, nhất là những biểu hiện của người Esquimau (Bắc Mỹ) hoặc các cư dân cổ ở vùng Siberi v.v

Những tín hiệu, biểu tượng, chữ viết của Phương Đông cũng đã hình thành từ những buổi đầu, vào thời kỳ bình minh của loài người. Đã hơn 4.000 năm, kể từ khi ông Phục Hy vẽ nên những dấu ấn tượng hình của trời, đất, mây, núi, lửa, gió, (Tám quẻ, được khắc trên mu rùa v.v). Chữ viết cũng đã hình thành và phổ cập sau đó… Tuy nhiên, các vết tích còn lại mà chúng ta tìm thấy được qua những công trình khai quật, nhiều hơn hết là thời Ðông Chu (1100-770 TCN) đến thời Khổng Tử thì cực thịnh. Mãi đến năm 120 vào thời nhà Hán, có một vị quan tên là Xu Shen đã tổng hợp được gồm 9353 chữ. Vị này cho rằng kể từ thời Tam Hoàng, Ngũ Ðế, khởi thuỷ của văn tự đã thay đổi. Cho đến thời nhà Thanh, vua Khang Hy đã cho soạn bộ Hán tự với 40.000 chữ, tuy nhiên trong văn chương chỉ có 6000 chữ, số còn lại là những cổ ngữ phức tạp dùng vào thời Lão Tử, do đó ít dùng trong sinh hoạt hiện tại. Nói như thế, bản văn ngày nay mà người Phương Đông dùng có lẽ là một bản chữ Hán đã dịch lại từ một bản chữ Hán cổ của Lão Tử.

Ở Phương Tây, bên những giao lưu, tiếp cận của một xã hội tổ chức cao, bắt buộc phải tạo nên một hệ thống thông tin, để rồi người Hy-Lạp, La Mã, sau đến Ai Cập… đã có văn tự, những con chữ bao gồm 26 chữ cái, được kết hợp lại tạo thành một phương tiện thông tin đại chúng, sau cùng đưa đến một kỷ nguyên hoàn chỉnh của vă tự, mở  đầu cho nền văn chương Kinh Thánh qua ngôn ngữ La-Tinh gọi là “Logos” hay lời phán”Parole”.

Quá trình phát triển của ngôn ngữ Phương Tây trải qua hệ thống các Giáo hội,  mang thông điệp tạo sự an bình cho mọi người, đồng thời mang những lời răn đến muôn dân, điển hình nhất như tấm bia khắc trên đá, với bao điều dạy của Thánh Moise v.v

 chu tuong hinh ai cap
 Chữ tượng hình của Ai Cập trong ngôi mộ cổ, đã được hình thành từ 1.500 TCN, ở Việt Nam là thời kỳ đầu của Văn hóa Đông Sơn.

Các thánh kinh khởi sự viết bằng tay, làm bản sao cũng bằng tay và thực hiện chép trên các mảnh da thuộc. Khi kỹ thuật làm giấy được du nhập từ phương Đông và  nghề in mộc bản (Woodblock Print) ra đời từ 1370, đã làm cho phương tiện truyền thông tin được cách mạng hóa hoàn toàn để đi vào đại chúng, tạo nên sự hưởng ứng nhiệt liệt từ người dân. Những quyển kinh, truyện, sách được in làm nhiều ấn bản, tạo lên mạng lưới thực dụng đầu tiên cho một xã hội tiêu thụ.

Giai đoạn in ấn

Từ thế kỷ 15, qua cuộc cách mạng về kỹ thuật in ấn (điển hình là ngành in khắc gỗ, in kẽm) đã tạo ra nhiều sinh khí mới cho các cơ quan truyền thông, thúc đẩy sự ra đời của nhiều cơ sở xuất bản trên toàn Châu Âu. Trong điều kiện như vậy, các họa sỹ cũng đã vào cuộc, phần lớn họ làm công việc minh họa các sách báo, nhất là kinh thánh v.v Cơ sở in ấn ở Đức do Martin Schongauer, Durer  thành lập đã tạo được danh tiếng trong ngành in ở Châu Âu .

Ở thế kỷ này, đa số các bản in đều mô phỏng theo bản viết tay, đó là giai đoạn đầu giữa thế kỷ 15 (từ 1400-1450) có rất nhiều bản in được thực hiện. Trung bình, số lượng ấn loát được thực hiện ở giai đoạn này từ 200 bản đến 1.000 bản, con số này khá cao ở giai đoạn đó. Đến cuối thế kỷ 15, thị trường in ở Châu Âu đã phát triển sâu rộng, điển hình là Đức, Ý… đã tạo nên một cơn sốt tại đây (Ví dụ  xưởng in thời sự ở Nurember, Đức)

ban in viet tay

 Bản Viết Tay và bản in Kinh Thánh của GUTENBERG thế kỷ 15.

Năm 1456, Gutenberg đã in quyển Thánh Kinh gồm 42 dòng (tuy vẫn bị lỗi 03 chữ sau khi in) cùng với 200 ấn bản, bằng kỹ thuật in xếp chữ (Typography). Về mặt kỹ thuật in ứng dụng  thời đó coi như thành công, nhưng chi phí lại rất khó khăn, khiến ông trở thành con nợ của ngân hàng và không hề hoàn lại được vốn đã bỏ ra. Gutenberg mất năm 1468,  kỹ thuật in Typography của ông đã bành trướng sang toàn Châu Âu sau đó. Đến thế kỷ 18 phương pháp ăn mòn hóa học được áp dụng, cho đến năm 1798, phương pháp in offset ra đời tạo đà cho ngành in phát triển hơn nữa vào giai đoạn sau, mà điển hình là in lưới áp dụng trong công nghiệp dệt (thế kỷ 19), in tự động bằng máy (thế kỷ 20). Đặc biệt, khi giấy in được sản xuất để phục vụ cho ngành in thì kỹ thuật in phát triển mạnh, nhất là sau năm 1950 do phát minh ra việc phục chế màu từ 03 màu cơ bản: Cyan, Magenta và Yellow.

Tại Việt Nam, ngành in hình thành và phát triển khá muộn so với thế giới. Thời nhà Lý, nhà sư Tín Học là người đã in các loại sách kinh phật cho các chùa chiền bằng nghề in khắc gỗ. Nhưng giai đoạn cực thịnh của loại hình in này là thời Hậu Lê do Lương Như Học khởi xướng vào thế kỷ 19. Cuối thế kỷ 19, nghề in Typography xâm nhập vào Việt Nam. Lúc này, nhiều nhà in đã được thành lập để phục vụ cho việc in báo (nhà in Ideo năm 1875 ở Hà Nội, nhà in Đắc Lập ở Huế năm 1926. Sau năm 1954, đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền thì có nhà in Tiến Bộ ở miền Bắc năm 1946, nhà in Trần Phú ở miền Nam năm 1947…). Ngày 10-10-1952, Bác Hồ ký sắc lệnh thành lập nhà in quốc gia và lấy ngày này làm ngày truyền thống của ngành in Việt Nam.

Đến nay, qua nhiều năm đổi mới, ngành in của nước ta đã có những bước tiến vượt bậc, máy móc được trang bị hiện đại: máy sắp chữ chì được thay bằng máy vi tính, thay in Typography bằng in Offset…

Bản thân từ “Thiết kế đồ hoạ” bao gồm rất nhiều nghĩa, nhiều mảng. Mỗi mảng đều cần một sự nghiên cứu chuyên sâu nhất định cũng như quá trình học tập, thực hành trong một thời gian dài. Nếu ai đó giới thiệu là một “Graphic Designer” bạn nên hỏi thêm chuyên môn là gì để xác định chính xác hơn nghề nghiệp mà người đó đang làm. Trong ngành “Thiết kế đồ hoạ” có những mảng chuyên môn sau:

1. Magazine Design – Thiết kế Báo, Tạp chí

Thiết kế dàn trang các tạp chí, báo giấy. Người làm nghề này cần thông tạo kiến thức về thuật ngữ báo chí, dàn trang chữ, tiêu đề, hệ lưới, bố cục và xử lý ảnh. Chủ yếu xài các phầm mềm như QuarkXPress, InDesign.

2. Advertising  – Thiết kế Quảng cáo

Tạo ra những mẫu thiết kế mang thông điệp truyền thông, quảng bá. Những sản phẩm thường thấy như tời rơi, poster, trang quảng cáo báo (Print Ad), bảng quảng cáo,… Phần mềm chuyên dụng nhất là Adobe Illustrator và lấy hình ảnh được xử lý từ Photoshop.

3. Book Design – Thiết kế Sách

Thiết kế sách ở đây không chỉ là bìa sách mà bao gồm các loại sách tham khảo chuyên môn. Những loại sách tham khảo chuyên môn luôn có những sáng tạo rất khác biệt, bắt mắt cho người xem. Đặc biệt là những loại sách liên quan đến ngành thiết kế. Người làm ngành này có kiến thức về vật liệu giấy và kỹ thuật in ấn mỹ thuật.

4. Corporate Identity – Nhận diện Thương hiệu

Hệ thống nhận diện rất quan trọng trong mỗi doanh nghiệp. Nó giúp thống nhất hình ảnh đồ hoạ đến khách hàng, tạo sức mạnh về hình ảnh doanh nghiệp. Nhất là việc tránh những nhầm lẫn về màu sắc, tỉ lệ của thương hiệu (Logo) trên các phương tiện truyền thông.

5. Film Titles – Tiêu đề Phim

Một tiêu đề Phim tốt và đúng chủ đề giúp nâng giá trị bộ phim lên rất nhiều lần. Những thiết kế này sẽ được sử dụng lẫn trong phim đến ngoài phim như poster giới thiệu. Người làm nghề này cần 3 yếu tố chính là hiểu về chủ đề tư tưởng của bộ phim, kỹ thuật tạo hình kỹ xảo và hiệu ứng chuyển động. Phần mềm đồ hoạ thường dùng là: Adobe Photoshop, After Effect và một số phần mềm tạo hình 3D.

6.  TV Graphic – Đồ hoạ Truyền hình

Mỗi chương trình, mỗi đài phát sóng đều có những đoạn giới thiệu chương trình riêng, được đầu tư rất công phu và mang đặc trưng riêng. Cái khó nhất của mảng này là tạo những hình ảnh động mang tính biểu tượng cao. Kỹ năng ước lệ và trí tưởng tượng bay bổng là thế mạnh trong mảng này. Phần mềm đồ hoạ thường dùng ngoài những thông dụng Adobe Photoshop, After Effect cần biết xử dụng các phần mềm cấp cao của hãng Autodesk như Maya, Motion Builder, …

7. Interactive Design – Thiết kế Tương tác

Liên quan nhiều đến lĩnh vực công nghệ thông tin, nhất là phần mềm cho người dùng cuối. Với trào lưu điện thoại thông minh, máy tính bảng đang phát triển. Ngành thiết kế này rất hứa hẹn cho các nhà thiết kế. Để tạo ra những sản phẩm tốt, người thiết kế cần nắm rõ về hành vi sử dụng, phương pháp tương tác với giao diện để đem lại hiệu quả tốt nhất cho ứng dung.

8. Branding – Phát triển Thương hiệu

Về nghĩa hẹp và mảng chuyên về thiết kế Logo, biểu tượng. Về nghĩa rộng, mảng này liên quan đến nhiều mảng khác như nhận diện thương hiệu, bao bì,… Kiến thức thiên về phát triển thương hiệu và sản phẩm.

9. Record Design – Thiết kế Ngành thu âm

Mỗi Album ca nhạc khi phát hành, mẫu mã thiết kế bìa, hộp bên ngoài có ảnh hưởng mạnh đến quyết định lựa chọn của khách hàng. Do đó việc đầu tư nghiêm túc cho sản phẩm này là yếu tố quan trong đối với ca sĩ và nhà phát hành.

10. Environmental Design – Thiết kế Môi trường

Thiết kế Môi trường thuộc về ngành Kiến trúc, Cảnh quan. Ngành thiết kế đồ hoạ có nhiệm vụ tô điểm cho môi trường này. Đặc biệt là hệ thống bảng hiệu, bảng chỉ dẫn đường đi. Tại các nước tiên tiến, mỗi toà nhà đều có một thiết kế đồ hoạ môi trường đặc trưng riêng rất đẹp.

11. Web Design – Thiết kế Web

Giao diện trang web như một “mặt tiền” của doanh nghiệp. Một giao diện web có thiết kế đẹp, chuyên nghiệp sẽ tạo lòng tin mạnh mẽ hơn đối với khách hàng, người xem. Nếu người thiết kế có một ít kiến thức về mảng thiết kế tương tác sẽ phát triển hơn.

12. Design Education – Thiết kế cho Giáo dục

Trong ngành Giáo dục, Đào tạo. Nếu chỉ truyền đạt kiến thức bằng ngôn từ, chữ viết chi chít sẽ gây nhàm chán cho người tiếp thu. Do đó những nội dung cần được đồ hoạ hoá để truyền tải thông điệp một cách xúc tích và nhớ lâu hơn.

13. Type Design – Thiết kế Chữ viết

Ngành thiết kế cho con chữ phát triển trước khi ngành Thiết kế đồ hoạ ra đời (typography). Nhưng nhờ máy tính và in ấn mà mảng này đạt đến kỹ thuật thể hiện mang cảm xúc đa dạng hơn. Người giỏi mảng này sẽ có năng lực thể hiện mỹ thuật tốt hơn hẳn các đồng nghiệp khác nhờ tính tĩ mĩ và sự nhất quán. Steve Jobs, nhà sáng lập, CEO lừng danh của Apple, nhờ học qua lớp học này mà “giác ngộ” được cách thể hiện thiết kế vượt bậc trong các sản phẩm của hãng.

14. Motion Graphics – Đồ hoạ Hình động

Một lĩnh vực rất dễ khiến các nhà thiết kế chìm đắm trong nó. Kết quả thị giác của thiết kế có ma thuật khiến ai tạo ra nó cũng tự hào về sản phẩm của mình. Kiến thức về mảng này rộng hơn cả “Thiết kế tiêu đề phim” và “Đồ hoạ Truyền hình”. Nền tảng chính để thành công là kiến thức sử dụng, kết hợp nhiều phần mềm đồ hoạ cao cấp và các bộ lọc hãng thứ 3.

16. Information Graphic – Đồ hoạ Thông tin

Mảng này tương đối khác xa lạ với các nhà thiết kế tại Việt Nam. Nhưng ở các nước phát triển, đó là một ngành đòi hỏi lượng chất xám cao. Nhiệm vụ chính là biến những con số thống kê khô khan trở thành những tác phẩm mỹ thuật xúc tích. Mảng này mang một phần kiến thức của mảng “Thiết kế cho Giáo dục” và “Đồ hoạ Hình động” cùng kinh nghiệm chuyên sâu về sự ước lệ thông tin.

17. Package Design – Thiết kế Bao bì

Mảng thiết kế này không xa lạ với bất kỳ ai quan tâm đến các sản phẩm của ngành “Thiết kế đồ hoạ”. Từ “Thiết kế Bao bì” ở đây chỉ dừng lại ở hình ảnh đồ hoạ, không liên quan đến ngành thiết kế tạo dáng sản phẩm. Tác phẩm cuối cùng là sự kết hợp giữa kiến thức thị giác và hình ảnh thương hiệu. Phần mềm chủ yếu là Adobe Illustrator